Tài trợ bởi vatgia.com
Hỏi đáp luật lao động 1280 Lượt xem

Làm gì khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật ?

Bị công ty cho nghỉ việc với lý do tự ý bỏ việc trước ngày nghỉ cho phép có đúng pháp luật, và nếu không đúng thì phải làm gì để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, hãy cùng Thái An tìm hiểu thông qua tình huống cụ thể sau.

Xin chào luật sư, tôi đang có thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp như sau: Thưa luật sư, cách đây 6 năm tôi bắt đầu làm việc tại 1 công ty của Hàn Quốc, đến đầu tháng 2 năm 2015( tức là tháng Chạp (tháng 12) năm 2014) vào ngày 28 âm  tôi xin công ty về sớm để kịp chuyến xe về quê ăn Tết , nhưng Giám Đốc người Hàn không đồng ý. Vì vé xe đã mua trước đó hơn 2 tháng rồi, không thể đổi được, nên tôi đã tự ý bỏ về và đến lịch công ty đi làm lại sau tết thì đi làm bình thường. Tuy nhiên, khi vô lại thì công ty không cho em làm việc nữa và cho tôi nghỉ việc, cảm thấy như vậy là vô lý, tuy nhiên, tôi cũng không rõ về các quy định của pháp luật, mặc dù đã lên mạng tìm hiểu, vì vậy tôi muốn nhờ luật sư tư vấn cụ thể giúp tôi, làm thế nào để tôi có thể bảo đảm được quyền lợi của mình, và việc công ty cho tôi nghỉ việc như thế theo quy định của pháp luật là đúng hay sai? Rất mong luật sư tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty chúng tôi! Vấn đề của bạn tôi xin được trả lời như sau:

Thứ nhất: Về hành vi chấm dứt hợp đồng lao động của công ty đối với bạn.

Theo thông tin bạn cung cấp, thì công ty Hàn Quốc đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bạn với lý do tự ý nghỉ việc trước thời gian nghỉ việc mà công ty Hàn Quốc cho phép nghỉ trong khi không có sự đồng ý của người có thẩm quyền của công ty.

Căn cứ Điều 38 Luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Và Điều 41 Luật lao động năm 2012 quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này.

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, xét với tình huống của bạn, do lý do công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn không thuộc 1 trong các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao theo quy định tại Khoản 1, Điều 38, Luật lao động năm 2012, nên căn cứ vào Điều 41 Luật lao động năm 2012 thì đây là trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Thứ hai: Cách thức để đòi quyền lợi cho người lao động khi bị người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

- Theo Điều 132 BLLĐ thì bạn có thể gửi đơn trực tiếp hoặc thông qua tổ chức công đoàn khiếu nại lên lãnh đạo doanh nghiệp để yêu cầu tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng lao động đã ký.

-  Nếu như sự tham gia của Công đoàn không có hiệu quả thì bạn có thể làm đơn khởi kiện NSDLĐ ra Tòa án nhân dân huyện tại địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động để Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình và theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 201 thì tranh chấp trong trường hợp này không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải.

Điểm a, Điều 201, Luật lao động quy đinh như sau:

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động".

Thứ ba: về quyền lợi mà bạn được hưởng do hành vi trái luật của công ty.

Điều 42 Luật lao động quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Nếu còn vướng mắc, xin vui lòng liên hệ trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn của chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

Công ty Luật Thái An

Đối tác pháp lý đáng tin cậy. 

 

TƯ VẤN

Bạn cần được tư vấn hay yêu cầu dịch vụ pháp lý ?

Hãy gọi
1900 6218

Hoặc viết email tới
contact@luatthaian.vn

  Gọi 1900 6218
Chat với Luật Thái An